Hỗ trợ trực tuyến

  • (buivantienbmt@gmail.com)
  • (buivantienbmt.vn@gmail.com)

Ảnh ngẫu nhiên

Hinh0012.jpg Hinh0046.jpg Hinh0028.jpg _DSC3977.jpg BLTIM.swf Tuong_than_atlat_3.jpg Tuong_than_At_lat_2.jpg Tuong_than_At_lat_1.jpg DongHaThanhPhoTuongLai128kb.mp3 QuangTriyeuthuong128kb.mp3 OiConSuoiLaLa128kb.mp3 ChieuHienLuong128kb.mp3 CoNonThanhCo128kb.mp3 IMG_1909.jpg DSC00943.jpg DSC00787.jpg Cotcodhsphue.jpg Dien2.jpg DHSPHUE.jpg Taxi2.jpg

Thông tin

Tài nguyên website

Sắp xếp dữ liệu

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Thư giản Online

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Với chương trình GD phổ thông tổng thể sau 2018 phần nội dung phẩm chất, năng lực theo bạn như thế nào?
    Đồng ý
    Không đồng ý
    Bổ sung phần phẩm chất
    Bổ sung phần năng lực
    Không có ý kiến

    MÁY TÍNH ĐIỆN TỬ

    NGHE NHẠC

    ! ĐÂY LÀ AI ! LÀ AI !

    CẢNH QUAN VIỆT NAM

    NGÔI NHÀ VIOLET.VN

    Chào mừng quý vị đến với WEBSITE-Bùi Văn Tiến-thpt Buôn Ma Thuột.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Chia sẻ thông tin giáo dục >

    Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 11.4.2017

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

     

     

     

     

    CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ

    (Dự thảo ngày 11/04/2017)


     

     

     

     

    Hà Nội, năm 2017

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    MỤC LỤC

     

     

    TT

    Nội dung

    Trang

     

    LỜI NÓI ĐẦU

    3

    I

    QUANĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    5

    II

    MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    6

    III

    YÊU CẦU CẦN ĐẠT VỀ PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC

    6

    IV

    KẾ HOẠCH GIÁO DỤC

    7

    V

    ĐỊNH HƯỚNG VỀ NỘI DUNG GIÁO DỤC

    13

    VI

    ĐỊNH HƯỚNG VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC

    31

    VII

    ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNHGIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    32

    VIII

    PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNHGIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    34

    IX

    PHỤ LỤC

    35

    1

    GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

    35

    2

    BIỂU HIỆN PHẨM CHẤTCỦA HỌC SINH

    37

    3

    BIỂU HIỆN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH

    41

    X

    TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

    57

     


    LỜI NÓI ĐẦU

    Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, những thành tựu về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hóa còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa hội đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững.

    Cũng trong 30 năm qua, thế giới chứng kiến những biến đổi sâu sắc về mọi mặt. Các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư nối tiếp nhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vượt bậc, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển. Mặt khác, những biến đổi về khí hậu, tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái và những biến động về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thách thức có tính toàn cầu. Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu.

    Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

    Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kếthợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục pháttriểntoàn diện cả về phẩmchất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.”

    Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp người học tích lũy được kiến thức phổ thông vững chắc; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.

    Chương trình giáo dục phổ thông bao gồm chương trình tổng thể (khung chương trình), các chương trình môn học và hoạt động giáo dục.

    Việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan. Trước khi ban hành chương trình, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các hội thảo, tiếp thu ý kiến từ nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên trong cả nước cũng như từ các chuyên gia tư vấn quốc tế và công bố dự thảo chương trình trên mạng Internet để xin ý kiến các tầng lớp nhân dân. Chương trình đã được Hội đồng Quốc gia Thẩm định chương trình giáo dục phổ thông xem xét, đánh giá và thông qua.

    Nhân dịp này, Bộ Giáo dục và Đào tạo trân trọng ghi nhận đóng góp của các nhà khoa học và nhà giáo đã trực tiếp tham gia xây dựng, thẩm định chương trình. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng xin gửi lời cảm ơn đến các tổ chức và cá nhân trong nước và quốc tế đã góp ý và chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chương trình.

     


    I.QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    1. Chương trình giáo dục phổ thông là văn bản chính sách của Nhà nước thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lý chất lượng giáo dục phổ thông; đồng thời là cam kết của Nhà nước bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ thông.

    2. Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước và những tiến bộ của thời đại về khoa học - công nghệ và xã hội; phù hợp với đặc điểm con người, văn hóa Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh.

    3.Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó.

    4. Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học.

    5.Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là:

    a) Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.

    b) Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình.

    c) Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học - công nghệ và yêu cầu của thực tế.

    II. MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.

    Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị gia đình, quê hương, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.

    Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học; tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội; hình thành phương pháp học tập, hoàn chỉnh tri thức và kỹ năng nền tảng để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động.

    Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực của người lao động, ý thức và nhân cách công dân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.

    III. YÊU CẦU CẦN ĐẠT VỀ PHẨM CHẤTVÀ NĂNG LỰC

    1.Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: yêu đất nước,yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm.

    2. Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:

    a) Những năng lựcchung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục (sau đây gọi chung là môn học) góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

    b) Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.

    Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh.

    3. Các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi (có những biểu hiện cụ thể được nêu tại phần Phụ lục) là căn cứ để xây dựng chương trình môn học; biên soạn sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn tổ chức dạy học; đánh giá kết quả giáo dục học sinh và chất lượng giáo dục phổ thông.

    IV. KẾ HOẠCH GIÁO DỤC

    Hệ thống các môn học của chương trình giáo dục phổ thông được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc.

    Trong một năm học,thời gian thực học các môn học của chương trình giáo dục phổ thông tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương.

    1. Giai đoạn giáo dục cơ bản

    1.1. Các môn học

    a) Cấp tiểu học

    Các môn học bắt buộc gồm: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu công nghệ.

    Các môn học bắt buộc có phân hóa gồm: Thế giới công nghệ, Tìm hiểu tin học, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

    Môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số.

    Ngoài ra, ở cấp tiểu học còn có hoạt động Tự học có hướng dẫn (tự học trên lớp của học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày, có sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên).

    b) Cấp trung học cơ sở

    Các môn học bắt buộc gồm: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục công dân, Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý.

    Các môn học bắt buộc có phân hóa gồm: Tin học, Công nghệ và Hướng nghiệp, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

    Môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2.

    1.2. Thời lượng giáo dục

    a) Cấp tiểu học

    Mỗi tiết học cho lớp 1 và lớp 2 từ 30 phút đến 35 phút; cho lớp 3, lớp 4 và lớp 5 từ 35 phút đến 40 phút; giữa các tiết học có thời gian nghỉ. Các trường dạy học 2 buổi/ngày bố trí không quá 7 tiết học/ngày; 31 tiết học/tuần đối với lớp 1, lớp 2 và lớp 3; 32 tiết học/tuần đối với lớp 4 và lớp 5. Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 – 2019 dạy học được 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 – 2023 dạy học được 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học. Đối với những lớp chưa thực hiện được dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương.

    b) Cấp trung học cơ sở

    Mỗi ngày học 1 buổi, không quá 5 tiết học. Mỗi tiết học 45 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ. Khuyến khích các trường trung học cơ sở đủ điều kiện thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Bảng tổng hợp kế hoạch giáo dục ở tiểu học và trung học cơ sở

    Cấp học

    Tiểu học

    Trung học cơ sở

    Lớp học

    Lớp 1

    Lớp 2

    Lớp 3

    Lớp 4

    Lớp 5

    Lớp 6

    Lớp 7

    Lớp 8

    Lớp 9

    1. Các môn học bắt buộc,
    môn học bắt buộc có phân hoá và số tiết trongnăm học

    Tiếng Việt

    Ngữ văn

    420

    350

    280

    245

    245

    140

    140

    140

    140

     

     

    Ngoại ngữ 1

    Ngoại ngữ 1

     

     

    140

    140

    140

    105

    105

    105

    105

    Toán

    Toán

    105

    175

    175

    175

    210

    140

    140

    140

    140

    Giáo dục lối sống

    Giáo dục công dân

    70

    70

    70

    35

    35

    35

    35

    52,5

    52,5

    Cuộc sống quanh ta

    Tìm hiểu xã hội

    Lịch sử và Địa lý

    70

    70

    105

    105

    105

    105

    Tìm hiểu tự nhiên

    Khoa học tự nhiên

    70

    70

    70

    70

    70

    140

    140

    140

    140

    Thế giới công nghệ

    Tìm hiểu tin học

    Tin học

    35

    35

    52,5

    52,5

    52,5

    52,5

    Tìm hiểu công nghệ

    Công nghệ và Hướng nghiệp

    35

    35

    35

    35

    35

    52,5

    52,5

    70

    70

    Giáo dục thể chất

    Giáo dục thể chất

    70

    70

    70

    70

    70

    70

    70

    70

    70

    Nghệ thuật

    Nghệ thuật

    70

    70

    70

    70

    70

    70

    70

    70

    70

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

    105

    105

    105

    105

    105

    105

    105

    105

    105

    Tự học có hướng dẫn

     

     

     

     

    140

    140

    70

    70

    35

     

     

     

     

    2. Các môn học tự chọn, nội dung giáo dục của địa phương và số tiết trong năm học

    Tiếng dân tộc thiểu số,

    Nội dung giáo dục của địa phương

    Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2,

    Nội dung giáo dục của địa phương

    62

    62

    62

    64

    64

    58

    58

    60

    60

    Tổng số tiết (1) và (2)

    trongnăm học

    1147

    1147

    1147

    1184

    1184

    1073

    1073

    1110

    1110

    Số tiết trung bình/tuần

    31

    31

    31

    32

    32

    29

    29

    30

    30

                           

     

    2. Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

    2.1. Các môn học

    a) Lớp 10

    Lớp 10 là lớp dự hướng nghề nghiệp của giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông. Nội dung các môn học ở lớp 10 giúp học sinh có cách nhìn tổng quát về lĩnh vực khoa học tương ứng với mỗi môn học và có những hoạt động trải nghiệm nghệ thuật, hiểu vai trò và ứng dụng của mỗi ngành khoa học, nghệ thuật trong đời sống thực tế, những ngành nghề có liên quan, nhằm củng cố vững chắc học vấn phổ thông cốt lõi, hoàn thiện thêm một bước các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, tạo điều kiện để học sinh nhận thức rõ hơn năng lực, sở trường của bản thân, từ đó có hứng thú đối với môn học và định hướng lựa chọn các môn học ở lớp 11 và lớp 12 một cách phù hợp.

    Các môn học bắt buộc: Ngữ văn, Toán, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Thiết kế và Công nghệ, Ngoại ngữ 1, Giáo dục quốc phòng và an ninh.

    Các môn học bắt buộc có phân hóa: Tin học, Giáo dục thể chất, Hoạt động Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

    Môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2.

    b) Lớp 11 vàlớp 12

    Lớp 11 và lớp12 là các lớp phân hoá sâu của giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Chương trình các môn học ở lớp 11 và lớp12 được phát triển trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 10, lựa chọn những vấn đề mang tính ứng dụng cao, thiết thực đối với định hướng nghề nghiệp sau trung học phổ thông của học sinh.

    Các môn học bắt buộc: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục quốc phòng và an ninh.

    Các môn học bắt buộc có phân hoá: Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

    Các môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2.

    Các môn học tự chọn bắt buộc: Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Khoa học máy tính, Tin học ứng dụng, Thiết kế và Công nghệ, Mỹ thuật, Âm nhạc, Chuyên đề học tập.

    Học sinh tự chọn tối thiểu 3 môn học và 1 chuyên đề học tập trong các môn học tự chọn bắt buộc phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường. Các trường có phương án xây dựng các tổ hợp môn học để vừa đáp ứng nhu cầu của người học vừa bảo đảm phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường.

    2.2. Thời lượng giáo dục

    Mỗi ngày học 1 buổi, không quá 5 tiết. Mỗi tiết học 45 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ. Tổng số tiết học trong mỗi tuần không quá 30 tiết. Khuyến khích các trường trung học phổ thông đủ điều kiện thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Bảng tổng hợp kế hoạch giáo dục ở trung học phổ thông

    Lớp học

    Lớp 10

    Lớp học

    Lớp 11

    Lớp 12

     

    Các môn học
    và số tiết trong năm học của từng môn học

    1. Các môn học bắt buộc

    Ngữ văn

    Các môn học
    và số tiết trong năm học của từng môn học

    1. Các môn học bắt buộc

    Ngữ văn

     

    105

    140

    140

     

    Toán

    Toán

     

    105

    140

    140

     

    Giáo dục quốc phòng và an ninh

    Giáo dục quốc phòng và an ninh

     

    35

    35

    35

     

    Giáo dục thể chất

    Giáo dục thể chất

     

    70

    70

    70

     

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

     

    70

    105

    105

     

    Ngoại ngữ 1

    Ngoại ngữ 1

     

    105

    105

    105

     

    Lịch sử

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2. Các môn học tự chọn bắt buộc

    (HS chọn ít nhất 3 môn với tổng số tiết tối thiểu là 315)

    Lịch sử

     

    70

    140

    140

     

    Địa lý

    Địa lý

     

    70

    140

    140

     

    Hoạt động nghệ thuật

    Mỹ thuật

     

    35

     

     

    105

    105

     

    Âm nhạc

     

    105

    105

     
       

     

     

    Vật lý

    Vật lý

     

    70

    140

    140

     

    Hóa học

    Hóa học

     

    70

    140

    140

     

    Sinh học

    Sinh học

     

    70

    140

    140

     

    Tin học

    Khoa học máy tính

     

    140

    140

     

    Tin học ứng dụng

     

    52,5

    140

    140

     

    Giáo dục kinh tế và pháp luật

    Giáo dục kinh tế và pháp luật

     

    70

    105

    105

     

    Thiết kế và công nghệ

    Thiết kế và công nghệ

     

    52,5

    105

    105

     

     

     Chuyên đề học tập

     

    15

    15

     

    2. Các môn học tự chọn, nội dung giáo dục của địa phương

    Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2

    Nội dung giáo dục của địa phương

    3. Các môn học tự chọn, nội dung giáo dục của địa phương

    Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2

    Nội dung giáo dục của địa phương

     

    60

    60

     

     

    Tổng số tiết học/năm học

     

    1110

     

    Số tiết học tối thiểu/năm học

     

    985

     

    985

     

     

     

    Số tiết trung bình/tuần

     

    30

     

    Số tiết tối thiểu/tuần

     

    27

     

    27

     

    V. ĐỊNH HƯỚNG VỀ NỘI DUNG GIÁO DỤC

    1. Giáo dục ngôn ngữ và văn học

    Giáo dục ngôn ngữ và văn học có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho thế hệ trẻ. Thông qua các hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ văn học, nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, đặc biệt là tình yêu đất nước, tình yêu con người, tính trung thực và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục ngôn ngữ và văn học giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên môn như năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội.

    Ngoài nhiệm vụ hình thành, phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt, ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số, giáo dục ngôn ngữ và văn học còn giúp học sinh sử dụng hiệu quả những phương tiện giao tiếp khác như hình ảnh, biểu tượng, ký hiệu, sơ đồ, đồ thị, bảng biểu,...

    Giáo dục ngôn ngữ được thực hiện ở tất cả các môn học, trong đó Ngữ văn, Ngoại ngữ và Tiếng dân tộc thiểu số có vai trò chủ đạo. Giáo dục văn học được thực hiện chủ yếu ở môn học Ngữ văn.

    1.1. Môn Ngữ văn

    Ngữ văn là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Nội dung cốt lõi bao gồm các mạch kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết yếu về tiếng Việt và văn học, phù hợp với các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học.

    Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung môn Ngữ văn được phân chia theo hai giai đoạn.

    - Giai đoạn giáo dục cơ bản

    Môn học có tên là Tiếng Việt ở cấp tiểu học và Ngữ văn ở cấp trung học cơ sở.

    Kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh có thể sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hằng ngày và học tập tốt các môn học khác; có thể đọc, viết, nói và nghe các loại văn bản phổ biến và thiết yếu, gồm văn bản văn học, nghị luận và thông tin; đồng thời qua môn học, học sinh được bồi dưỡng và phát triển về tâm hồn và nhân cách.

    Chương trình được thiết kế theo các mạch nội dung chính: đọc, viết, nói và nghe. Kiến thức tiếng Việt và văn học được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết, nói và nghe. Các ngữ liệu được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh ở mỗi cấp học.

    - Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

    Môn học giúp học sinh nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong các hoạt động học tập và thực tiễn đời sống; đồng thời tiếp cận với một số nội dung học tập có liên quan đến định hướng nghề nghiệp, đáp ứng sở thích và nhu cầu học tập của người học.

    Ở giai đoạn này, chương trình môn học củng cố các mạch nội dung của giai đoạn giáo dục cơ bản,  giúp học sinh phát triển toàn diện các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe; qua đó phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng lập luận, chú ý nhiều hơn đến tính chất công cụ của môn học, thể hiện qua việc tăng cường năng lực tiếp nhận và năng lực tạo lập văn bản nghị luận, văn bản thông tin có độ phức tạp hơn về chủ đề và kỹ thuật viết; giúp học sinh có cơ hội đọc nhiều và đọc sâu hơn các tác phẩm văn học theo thể loại, giai đoạn văn học hay phong cách sáng tác, trang bị một số kiến thức lịch sử văn học, lý luận văn học có tác dụng thiết thực đối với việc đọc và viết về văn học.

    Chương trình cũng quan tâm thích đáng đến đọc, viết, nói và nghe các loại văn bản có liên quan đến các ngành nghề; đồng thời giúp học sinh có những hiểu biết tương đối tổng quát về các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, khả năng vận dụng các năng lực về ngôn ngữ và văn học trong đời sống và công việc, từ đó khám phá sở thích, năng lực của bản thân để định hướng nghề nghiệp tương lai.

    1.2. Môn Ngoại ngữ

    Môn học Ngoại ngữ giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực ngoại ngữ để sử dụng một cách tự tin, hiệu quả, phục vụ cho học tập và giao tiếp, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước.

    Học sinh phổ thông bắt buộc phải học một ngoại ngữ (gọi là Ngoại ngữ 1) và được tự chọn thêm ít nhất một ngoại ngữ khác (gọi là Ngoại ngữ 2) theo nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của cơ sở giáo dục.

    Ngoại ngữ 1 là môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12. Cơ sở giáo dục có điều kiện thuận lợi có thể tổ chức học Ngoại ngữ 1 bắt đầu từ lớp 1; thời lượng học ở lớp 1, lớp 2 không quá 70 tiết/năm học.

    Ngoại ngữ 2 là môn học tự chọn, có thể bắt đầu từ lớp 6 và kết thúc ở bất kỳ lớp nào tùy theo nhu cầu của học sinh và khả năng đáp ứng của cơ sở giáo dục.

    Chương trình môn học Ngoại ngữ nhằm phát triển toàn diện 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Nội dung chương trình được xây dựng dựa theo yêu cầu của Khung trình độ ngoại ngữ sáu bậc dành cho Việt Nam, liền mạch từ giai đoạn giáo dục cơ bản đến hết lớp 12.

    1.3. Môn Tiếng dân tộc thiểu số

    Dạy học tiếng dân tộc thiểu số là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước để giữ gìn và phát huy giá trị ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc thiểu số. Nhà nước tập trung đầu tư, ưu tiên dạy tiếng dân tộc thiểu số đối với các dân tộc thiểu số ít người; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phổ thông là người dân tộc thiểu số có nguyện vọng, nhu cầu được học và hoàn thành chương trình học tiếng dân tộc thiểu số đã có chữ viết.

    Môn học Tiếng dân tộc thiểu số được dạy từ tiểu học, sử dụng thời lượng tự chọn tương ứng của từng cấp học để tổ chức dạy học.

    Nội dung dạy học tiếng dân tộc thiểu số được quy định trong từng chương trình tiếng dân tộc thiểu số do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

    Điều kiện tổ chức dạy học và quy trình đưa tiếng dân tộc thiểu số vào dạy học ở cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    2. Giáo dục toán học

    Giáo dục toán học hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi là: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kỹ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn. Giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với các môn học khác và giữa Toán học với đời sống thực tiễn.

    Giáo dục toán học được thực hiện ở nhiều môn học như Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo,... trong đó Toán là môn học cốt lõi.

    Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung môn Toán được phân chia theo hai giai đoạn.

    - Giai đoạn giáo dục cơ bản

    Môn Toán là môn học bắt buộc ở tiểu học và trung học cơ sở, giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy tắc toán học cần thiết nhất cho tất cả mọi người, làm nền tảng cho việc học tập ở các trình độ học tập tiếp theo hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày.

    Chương trình môn Toán giai đoạn giáo dục cơ bản kết hợp giữa cấu trúc tuyến tính với cấu trúc “đồng tâm xoáy ốc” (đồng tâm, mở rộng và nâng cao dần), xoay quanh và tích hợp ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất.

    - Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

    Môn Toán là môn học bắt buộc ở trung học phổ thông. Chương trình môn Toán ở giai đoạn này cũng kết hợp cấu trúc tuyến tính với cấu trúc “đồng tâm xoáy ốc”, xoay quanh và tích hợp ba mạch kiến thức: Số và Đại số, Hình học và Đo lường, Thống kê và Xác suất.

    Chương trình môn Toán ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp giúp cho học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về toán học, hiểu được vai trò và những ứng dụng của toán học trong đời sống thực tế, những ngành nghề có liên quan đến toán học để học sinh có cơ sở định hướng nghề nghiệp sau này, cũng như có đủ năng lực tối thiểu để tự mình tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến toán học trong suốt cuộc đời.

    Ở lớp 10, chương trình môn Toán giúp học sinh củng cố vững chắc học vấn toán học phổ thông cốt lõi, hoàn thiện dần các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, tạo điều kiện để học sinh bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của bản thân, có được thái độ tích cực đối với môn Toán.

    Ở các lớp 11 và 12, môn Toán được phát triển trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 10, được lựa chọn từ những vấn đề cần thiết nhất, mang tính ứng dụng cao đối với học sinh với các định hướng nghề nghiệp khác nhau sau trung học phổ thông.

    3. Giáo dục công dân

    Giáo dục công dân giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục nhân cách công dân. Thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, giáo dục công dân bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là tình cảm, nhận thức, niềm tin và cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật,có kỹ năng sống và bản lĩnh vững vàng để tiếp tục phát triển và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và hội nhập quốc tế.

    Giáo dục công dân được thực hiện thông qua tất cả các môn học, nhất là các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, trong đó Giáo dục lối sống (ở tiểu học), Giáo dục công dân (ở trung học cơ sở), Giáo dục kinh tế và pháp luật (ở trung học phổ thông) là những môn học cốt lõi.

    Mạch nội dung giáo dục công dân xoay quanh các mối quan hệ của con người với bản thân, với người khác,với cộng đồng, đất nước, nhân loại, với công việc và với môi trường tự nhiên; được xây dựng trên cơ sở kết hợp các giá trị truyền thống và hiện đại, dân tộc và toàn cầu; mở rộng và nâng cao dần từ tiểu học,trung học cơ sở đếntrung học phổ thông.

    Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục công dân được phân chia theo hai giai đoạn.

    - Giai đoạn giáo dục cơ bản

    Môn Giáo dục lối sống ở tiểu học, Giáo dục công dân ở trung học cơ sở là những môn học bắt buộc. Nội dung chủ yếu của các môn học này là giáo dục đạo đức, pháp luật, giá trị sống, kỹ năng sống. Các mạch nội dung này định hướng chính vào giáo dục về giá trị gia đình, quê hương, cộng đồng, nhằm hình thành cho học sinh thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập, sinh hoạtvà ý thức tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật.

    - Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

    Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở lớp 10 là môn học bắt buộc, ở các lớp 11 và 12 là môn học tự chọn bắt buộc. Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục kinh tế và pháp luật là học vấn phổ thông, cơ bản về kinh tế, pháp luật.

    Ở lớp 10, môn Giáo dục kinh tế và pháp luật giúp học sinh hoàn thiện thêm một bước các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời có cái nhìn tổng quát về lĩnh vực kinh tế và pháp luật, từ đó có hứng thú đối với môn học và đánh giá đúng nguyện vọng, sở trường của bản thân để lựa chọn môn học ở lớp 11 và lớp 12 một cách phù hợp.

    Ở lớp 11 và lớp 12, môn học Giáo dục kinh tế và pháp luật dành cho những học sinh định hướng theo học các ngành nghề Giáo dục chính trị, Giáo dục công dân, Kinh tế, Hành chính và Pháp luật. Nội dung chủ yếu của môn học  gồm những vấn đề kinh tế và pháp luật mang tính ứng dụng, thiết thực đối với định hướng nghề nghiệp sau trung học phổ thông của học sinh.

    4. Giáo dục quốc phòng an ninh

    Giáo dục quốc phòng và an ninh bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản về quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Giáo dục quốc phòng và an ninh ở trường tiểu học, trung học cơ sở được thực hiện tích hợp trong nội dung các môn học khác, kết hợp với hoạt động ngoại khóa phù hợp với lứa tuổi, bảo đảm cho học sinh hình thành những hiểu biết ban đầu về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, về lực lượng vũ trang nhân dân; có ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.

    Giáo dục quốc phòng và an ninh trong trường trung học phổ thông là môn học chính khóa, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết ban đầu về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; về truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam; có kiến thức cơ bản, cần thiết về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự; sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo v


    Nhắn tin cho tác giả
    Bùi Văn Tiến @ 10:03 16/05/2017
    Số lượt xem: 24
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    HOA NGHỆ THUẬT

    Photobucket